Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Đại học Nalanda và sự theo đuổi khoa học

ĐẠI HỌC NALANDA VÀ SỰ THEO ĐUỔI KHOA HỌC
Khôi Phục Trường Đại Học Nalanda


New Delhi, India - Trường Đại học Nalanda sẽ được khôi phục tuy nhiên sẽ không có sự hợp tác của đức Dalai Lama trong dự án phục hồi trung tâm Phật học cổ xưa này, một thiếu sót nhằm mục đích tránh những vấn đề nhạy cảm với Trung Quốc.
Hôm nay (8/7/2010), chính phủ Ấn Độ đã quyết định đưa ra một dự thảo tại phiên họp mùa mưa của Quốc hội nhằm phục hồi trường Đại học Nalanda bằng việc kêu gọi quốc tế mà đích nhắm là Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, khối liên minh mà trong đó Ấn Độ là thành viên cùng với Trung Quốc và 14 quốc gia khác.
Dự án có thể sẽ bắt đầu vào cuối năm nay và phật học sẽ là bộ phận  nòng cốt trong chương trình giảng dạy của trường.
Nhiều đệ tử của đức Dalai Lama – được  xem như là một trong những thành phần  tiêu biểu nhất theo truyền thống Nalanda của Phật giáo – dường như đã thiếu sót trong quá trình sắp đặt  của mình. Họ nói rằng quyết định của Ấn Độ thật đáng mỉa mai song có thể hiểu được, xét cho cùng thì đó cũng chỉ lạ sự ép buộc về địa lý chính trị của chính quyền New Delhi. “Rằng trường Đại học Nalanda được khôi phục mà có sự ủng hộ của các quốc gia Phật giáo quan trọng hơn là việc tham dự của đức Dalai Lama trong dự án,” một đệ tử lâu năm của Ngài nói.
Chính những phật tử Tây Tạng, như đức Dalai Lama là người gìn giữ “truyền thống Nalanda” và các giáo pháp của trường phái Đại thừa trong Phật giáo còn tồn tại sau khi trường Đại học bị quân xâm lược thiêu hủy vào thế kỷ 12.
Mặc dù đức Dalai Lama sẽ không có vai trò gì trong dự án nhưng kế hoặc khôi phục sẽ được nhắm đến một thành viên giải Nobel đó là Amartya Sen. Nhà kinh tế học Bengal đứng đầu ban Cố vấn Nalanda, ban này sẽ tổ chức các hội nghị trên toàn vùng  Đông Á, bao gồm cả Singapore và Trung Quốc, nhằm tiếp nhận  những kiến nghị đóng góp cho dự án khôi phục trường đại học này.
Trường đại học quốc tế này sẽ là một cơ quan tự quản có dấu riêng của Nalanda – được lưu giữ tại viện bảo tàng tại quận Nalanda thuộc bang Bihar – như là biểu tượng của trường.
Việc khôi phục sẽ được tiến hành thông qua một hiệp định liên chính phủ giữa các nước thành viên trong Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Chính phủ Ấn Độ đã quyết định giải ngân 10.050 triệu Rs. Ủy ban Kế hoạch sẽ đóng góp 500 triệu Rs cho đến khi trường có thể tự đứng vững được. Các quốc gia thành viên trong nhóm ủng hộ sẽ đóng góp tự nguyện, mặc dù trường cũng sẽ gây quỹ thông qua sự chung tay của quần chúng và tư nhân.
“Văn phòng dự án đã được thuê tại New Delhi cho trường Đại học dự định này và sẽ đi vào hoạt động sau khi dự thảo được ban hành tại Quốc hội,” Bộ trưởng Thông tin truyền thông Ambika cho biết sau phiên họp chính phủ hôm nay.
Trường Đại học dự định này sẽ bao gồm các phân khoa như : Phật Học, Triết Học và Tôn Giáo Tỷ Giảo, Lịch Sử, Hòa Bình và Quan Hệ Quốc Tế, Quản Trị Kinh Doanh liên quan đến Chính Sách Cộng Đồng và Phát Triển, Ngôn Ngữ và Văn Học, Sinh Thái và Môi Trường.
Chính quyền bang Bihar đã tìm được khu đất khoảng 500 mẫu ở Rajgir, gần khu trường Đại học Nalanda cũ.
500 mẫu nữa sẽ được chuyển giao. “Việc khôi phục trường đại học Nalanda cũng sẽ đưa đến lợi ích lớn hơn trong quá trình tiếp nối Phật giáo ở Ấn Độ, thực chất là có lợi cho ngành du lịch,” ông Soni nói.

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

UNESCO KỶ NIỆM NGÀY THƠ THẾ GIỚI (21/3)

THÔNG ĐIỆP TỪ TỔNG GIÁM ĐỐC UNESCO NHÂN KỶ NIỆM NGÀY THƠ THẾ GIỚI (21/3)
Message from Irina Bokova, Director-General of UNESCO
 on the occasion of the World Poetry Day, 21 March 2011
Poetry has a thousand faces and always springs from the depths of the culture of peoples. The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO) has long supported the work of poets, publishers and teachers worldwide. This year, once again, on the occasion of World Poetry Day, UNESCO wishes to highlight the artistic importance and the power of poetry in encouraging people to read and in creating one of humanity's most authentic and dynamic art forms.
Poets convey a timeless message. They are often key witness to history's great political and social changes. Their writings inspire us to build lasting peace in our minds, to rethink relations between man and nature and to establish humanism founded on the uniqueness and diversity of peoples. This is a difficult task, requiring the participation of all, whether in schools, libraries or cultural institutions. To quote the poet Tagore, the 150th anniversary of whose birth will be celebrated this year, "I have spent my days in stringing and unstringing my instrument".
It is important to understand the strong ties between poetry and all of the arts and techniques on which people draw to make sense of the world. Mallarmé used to say that poetry was the "expression, in human language restored to its essential rhythm, of the mysterious meaning of the aspects of existence". Poetry is not merely a means of communicating or transmitting information, for, as poets work constantly on the language, poetry also enlivens human discourse and always reveals the original brilliance of culture. UNESCO therefore sees the defence of freedom of expression and information, on one hand, and the promotion of poetry, on the other, as two indissociable components of its mandate for peace. As poetry reaches deeply into the innermost efforts of men and women to create and reflect, it has the capacity to sustain dialogue amid the diversity of human expression.
UNESCO undertakes to ensure, under its various programmes, that poetry is more widely published, translated and disseminated. In the same way as Jason entrusted Orpheus with the task of surmounting (khó khăn)obstacles that could not be overcome through physical strength or warfare, so too shall we need poetry for a long time in order to build peace in the minds of men and women.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

GHÁNH CHA MẸ ĐI BỘ 216 CÂY SỐ

Gánh cha mẹ đi bộ 216 cây số:
Anh Sanjay Kumar, 42 tuổi được dân làng ngưỡng mộ kể từ khi bắt đầu hành trình "Kanwar" - gánh cha và mẹ trên vai, băng qua quãng đường 216 km tới nhà mình ở khu Seelampur, thủ đô Delhi, Ấn Độ.
Người thợ điện này cho biết cha mẹ như là "thần" đối với anh, và anh tình nguyện cống hiến cuộc đời còn lại phục vụ họ.
"Rất nhiều bạn trẻ không hiểu được ý nghĩa của cha mẹ trong cuộc đời. Tôi gánh cha mẹ trên vai để tỏ lòng kính trọng với họ vì họ đã đem tôi đến với thế giới này. Họ là Thần của tôi", Kumar nói với tờ Hindustan Times.
Ông Lala Ram 95 tuổi và bà vợ 80 tuổi rất cảm kích tấm lòng của con trai vì anh đã giúp họ thực hiện ước nguyện được tắm nước thánh sông Hằng ở Haridwar, bang Uttar Pradesh, sau đó còn cõng họ về nhà ở thủ đô Delhi.
Kumar bị ấn tượng bởi câu chuyện thời thơ ấu do bà nội kể lại. "Nó khiến chúng tôi ngạc nhiên khi nói về kế hoạch sẽ gánh cha mẹ trên vai của mình. Chúng tôi cố gắng khuyên con không nên làm nhiệm vụ khó khăn đó, nhưng nó rất cương quyết và quỳ xuống xin phép", mẹ anh tâm sự.
Bất chấp trời mưa to, đường sá nham nhở, bị sưng và trợt ở cổ, vai, Kumar vẫn vượt qua quãng đường khoảng 25-30 km mỗi ngày khi gánh cùng lúc cả cha lẫn mẹ trên vai, nặng khoảng 115 kg.
"Họ chỉ ngừng lại để ăn uống - những bữa ăn đã được dân làng ủng hộ và chuẩn bị sẵn", một người cho biết.
Cứ sau mỗi bữa ăn, cả nhà lại dừng ở bên đường, rửa ráy và tiếp tục hành trình đến Delhi. Mỗi lần dừng lại, Kumar đều quỳ chạm vào chân cha mẹ và nhận lời chúc phúc của họ.
Hàng ngàn người dân đã đến để nhận lời chúc phúc của cha mẹ Kumar khi câu chuyện của họ lan đi nhanh chóng từ làng này đến làng khác.
Nguồn: http://vnexpress.net/


Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

DI SẢN PHẬT GIÁO Ở THUNG LŨNG BAMIYAN ĐÃ CÓ KẾ HOẠCH BẢO TỒN

   DI SẢN PHẬT GIÁO Ở THUNG LŨNG BAMIYAN ĐÃ CÓ
KẾ HOẠCH BẢO TỒN

Afghan officials and international experts outlined plans for the future safeguarding of the Cultural Landscape and Archaeological Remains of Bamiyan Valley (Afghanistan) at the end of two meetings at UNESCO in Paris from 2 to 4 March. The meetings were held on the occasion of the 10th anniversary of the tragic destruction of the giant Buddha statues of Bamiyan.

Afghan officials and international experts outlined plans for the future safeguarding of the Cultural Landscape and Archaeological Remains of Bamiyan Valley (Afghanistan) at the end of two meetings at UNESCO in Paris from 2 to 4 March. The meetings were held on the occasion of the 10th anniversary of the tragic destruction of the giant Buddha statues of Bamiyan.
 After hearing proposals for remedial measures and the future presentation of the two Buddha niches from international teams of experts from Germany, Italy, and Japan, the participants, including the Afghan Minister of Information and Culture, the Minister for Urban Development Affairs and the Governor of the Bamiyan Valley, agreed that:
-                         A total reconstruction of either Buddha sculpture is not to be considered for the moment in view of the scientific data presently available, and according to the best estimates of available resources against cost.

-                           The larger western niche will be consolidated and left empty as a testimony of the violence that occurred, while a feasibility study may be undertaken to determine whether or not a partial reassembling of fragments of the eastern Buddha could be an option in the coming years.

-                          There is a need to construct a central museum in Bamiyan and smaller site museums within the Landscape in order to preserve and display findings from the valley within the World Heritage property.

-                          Work needs to be pursued to safeguard and preserve the entire cultural landscape of Bamiyan Valley with due regard for all the archaeological and architectural components necessary for the future development of Bamiyan.

-                          A master plan needs to be developed in close collaboration with the local authorities to serve as reference for all future interventions.
 Since 2003, when the Cultural Landscape and Archaoelogical remains of the Bamiyan Valley were inscribed on the List of World heritage in danger, UNESCO has led a three-phase preservation plan for the property. Its focus has been to safeguard what remained after the intentional destructions of the Buddha statues and to render the site safe, notably by carrying out a complex demining operation of the site.
The 2011 Expert Working Group meeting concluded that the World Heritage site is potentially ready to be removed from the List of World Heritage in Danger by 2013. This conclusion was reached upon examining progress made to address security; structural stability of the remains of the two standing giant Buddhas; conserve the Archaeological Remains and Mural Paintings; and implement the property’s Management Plan and the Cultural Master Plan.
 Participants at the meetings further concluded that, with the tragedy of the destruction now behind us, Bamiyan Valley - with its unique history, tangible and intangible cultural heritage, and local communities - constitutes a fertile environment for learning how to transform a destructive act into an opportunity to reinforce tolerance, peace and development through culture for future generations.
 The International Forum ‘Towards Cultural Rapprochement and Tolerance’ organized by UNESCO on 2 March 2011 reaffirmed the vitality of cultural heritage and its tremendous potential to bring together cultures and promote tolerance.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Lễ kỷ niệm nhân 40 năm UNESCO ban hành công ước về luật chống buôn bán di sản văn hóa bất hợp pháp

LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM UNESO BAN HÀNH CÔNG ƯỚC VỀ LUẬT CHỐNG BUÔN BÁN DI SẢN VĂN HÓA BẤT HỢP PHÁP.
40 years combat against the illicit trafficking of cultural property- past and future of the 1970 Convention

                              (Biểu tượng Lôgo về công ước năm 1970)

The prevalent problem of illicit archeological excavations and the trafficking of religious objects, the expansion of the international art market, crimes connected with the illicit trade in cultural property and the financing of terrorist activities attract considerable media and political attention. The 1970 Convention gets to the heart of the problem. UNESCO evaluates the issue together with internationally renowned (có tiếng, nổi danh, lừng danh )personalities and experts, as well as with its traditional partners. 

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

ĐA DẠNG VĂN HÓA - NỀN TẢNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

ĐA DẠNG VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG ĐỂ  BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1. Văn hóa và môi trường
Các khu vực có tầm quan trọng đặc biệt có thể được nhà nước chính thức công nhận vào hệ thống các khu rừng đặc dụng như Vườn Quốc Gia Tam Đảo, Vườn Quốc gia Cúc Phương, ... hay nằm ngoài hệ thống các khu rừng đặc dụng nhưng có ý nghĩa lớn về giá trị lịch sử, môi trường, cảnh quan văn hóa như Công Viên Thống Nhất, ...


Dù được chính thức công nhận hay không công nhận về mặt pháp lý thì bản chất các không gian và cảnh quan ấy là vốn quý, là báu vật, là di sản, là thiên đường, là điểm đến hấp dẫn của du khách và các nhà đầu tư dịch vụ, là niềm tự hào của dân tộc ta với bạn bè năm châu. Những nơi này đã và đang đóng góp một phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững nước nhà. Nguyên tắc đúng là mọi hoạt động nói chung và hoạt động đầu tư-dịch vụ nói riêng cần phải hiểu, tôn trọng, hài hòa, thân thiện và bảo vệ toàn vẹn không gian, cảnh quan ấy. Trước khi thẩm định các dự án khả thi và báo cáo đánh giá tác động môi trường cần phải công khai rộng rãi để lắng nghe và hiểu thấu ý kiến phản biện đa chiều của xã hội. Tất cả những ai không tuân thủ nguyên tắc trên mà trực tiếp hoặc gián tiếp làm xâm hại hay ảnh hưởng xấu đến những nơi ấy là có tội với đất nước, với nhân loại và sẽ bị thế hệ con cháu tương lai than trách và nguyền rủa.


Có mối quan hệ mật thiết, mối tình sâu đậm giữa các khu vực đặc biệt này với biết bao người, đặc biệt là người dân bản địa và địa phương trong suốt chiều dài lịch sử, tạo nên một liên kết vững chải cùng nhau đứng vững theo thời gian. Tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do họ sáng tạo ra đã tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc và riêng cho từng khu vực, vùng miền. Họ tin rằng mọi vật đều có linh hồn, nuôi dưỡng và bảo hộ cho họ. Các hoa văn trên tấm vải dệt, các bài hát,... và các lễ hội truyền thống đều thể hiện rõ nét đặc sắc này. Do vậy, họ hiểu rằng nếu mình phá rừng, hủy diệt cây cối, không bảo hộ các loài động vật, thực vật, làm ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và cả đất đá tức mình đã làm hư nền tảng sự sống của chính mình. Nếu vậy tương lai mình cũng bị tiêu diệt. Mình tự tử một cách từ từ khi làm như vậy. Họ sống trong một không gian thênh thang, êm ả, yên bình, tự do với một đời sống bình an, đơn sơ, mộc mạc, bình dị, tình cảm, thật thà và mang đậm chất nhân văn.


Giá trị cuộc sống của họ ở chỗ họ hít thở không khí trong lành, không gian yên tĩnh, nghe chim hót, tiếp xúc với những điều kỳ diệu của cuộc sống xung quanh có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm rất hiệu quả,.... Cuộc sống này đã đem lại được những gia đình hạnh phúc, những thôn làng yên vui, những khu phố văn minh không bị những tệ hại xã hội như tội phạm, bạo động, ma túy, băng đảng, cờ bạc và sắc dục xâm chiếm. Hơn thế nữa, giá trị văn hóa và tinh thần ấy đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ tốt tài nguyên đa dạng sinh học trong khu vực. Những cây xanh, những mảnh rừng vẫn còn đó như bà mẹ thiêng liêng họ cần được bảo vệ mãi mãi. Bản sắc này được luân lưu trong dòng máu của tất cả mọi người trong không gian văn hóa ấy. Đây thực chất là những di sản của đất nước và thế giới cho dù nó không được công nhận danh hiệu hay nằm trong hệ thống pháp lý.


Các khu vực này đã và đang đứng trước nhiều thách thức, đe dọa lớn trước các nguy cơ suy thoái và hủy diệt tài nguyên đa dạng văn hóa và đa dạng sinh học bởi nhiều áp lực đến từ bên ngoài như du khách, đầu tư phát triển dịch vụ, đặc biệt là việc tư duy, quy hoạch đầu tư của các nhà ra quyết định. Trong quá trình quy hoạch, thành lập, công nhận và quản lý các khu vực này, các giá trị trên không được nghiên cứu và hiểu một cách đầy đủ hoặc lờ đi. Cùng với các hoạt động không hài hòa và phù hợp, đặc biệt là sự du nhập, xâm hại bởi các luồng văn hóa ngoại lai đã làm cho mối tình thiêng liêng, mối giây liên kết vô hình và hữu hình giữa họ với các khu vực này bị cắt hay bị tổn thương một cách trầm trọng. Điều này dẫn đến sự không hiểu và tin tưởng lẫn nhau, tạo ra nhiều xung đột và cản trở cho việc phát triển mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, thủy chung son sắc giữa dân với Đảng và Nhà nước từ bao đời nay. Những người vốn là người bảo vệ tốt các khu vực này nay lại trở thành nạn nhân của quá trình phát triển không bền vững. Họ rất dễ bị tổn thương, dễ bị bên ngoài xúi dục, lợi dụng, như một tất yếu họ trở thành lâm tặc, kẻ môi dưới, phá rừng hay tay sai cho cho các hành động bạo động và hoạt động chống phá một cách cá nhân và tập thể. Bản sắc văn hóa, các đa dạng văn hóa này bị mất kéo theo đa dạng sinh học mất và ảnh hưởng nghiêm trọng không lường đến sự nghiệp phát triển không bền vững của đất nước và thế giới.


Hiện nay trong khi chúng ta đang nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện dần Luật, Chính sách, Nghị định, Thông tư hướng dẫn,... cho việc bảo vệ và quản lý tốt các khu vực nói trên, thiết nghĩ Nhà nước và Chính phủ cần quan tâm và thúc đẩy việc nhận diện, nghiên cứu một cách đầy đủ các giá trị tổng thể, đặc biệt là các giá trị tâm linh, văn hóa tinh thần, hệ thống kiến thức bản địa đã làm nên nền tảng hay các di sản ấy. Điều này không chỉ thực hiện đúng theo Agenda 21 mà còn thể hiện rõ quyết tâm chính trị của ta hợp với lòng dân, đúng với tinh thần dân là gốc và đảm bảo uy tín của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế để bảo vệ toàn vẹn các “di sản” hay không gian trên. Trong khi chúng ta chưa có các tiêu chí cụ thể và hướng dẫn rõ ràng cho việc đầu tư, hoạt động và quản lý hiệu qủa các khu vực này thì việc học tập, tham khảo và vận dụng cho phù hợp các tuyên bố và hướng dẫn quốc tế có liên quan là hết sức cần thiết và khẩn cấp. Ba trong các văn bản quan trọng nhất đó là:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hướng dẫn của UNESCO/IUCN về bảo tồn và quản lý các khu vực tự nhiên linh thiêng (The UNESCO/IUCN Guidelines for the Conservation and Management of Sacred Natural Sites);
2. Công ước đa dạng sinh học Akwé: Hướng dẫn Kon cho việc đánh giá tác động Văn hóa, Môi trường và Xã hội liên quan đến Dự án Phát triển có ảnh hưởng khu vực thiêng liêng (The CBD Akwé: Kon Voluntary Guidelines for the Conduct of Cultural, Environmental and Social Impact Assessment Regarding Developments Proposed to Take Place on, or which are Likely to Impact on, Sacred Sites and on Lands and Waters Traditionally Occupied or Used by Indigenous and Local Communities);
3. Tuyên bố Yamato cho cách tiếp cận tổng hợp để bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (The Yamato Declaration on Integrated Approaches for Safeguarding Tangible and Intangible Cultural Heritage)

ĐA DẠNG VĂN HÓA - TÀI SẢN CHUNG CỦA NHÂN LOẠI

ĐA DẠNG VĂN HÓA LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA NHÂN LOẠI
(Nguồn: vietbao.com)

Hội nghị "Dự thảo Công ước về bảo vệ sự đa dạng các nội dung văn hóa và biểu đạt nghệ thuật" do Ủy ban quốc gia UNESCO VN tổ chức vừa diễn ra tại Hà Nội. Khẳng định sự cần thiết của dự thảo như một công cụ pháp lý, các học giả tham dự hội nghị cũng đề xuất những kiến nghị, góp ý trên cơ sở thực tế của VN.
Ông Chu Shiu-kee, đại diện UNESCO tại VN: Đa dạng văn hóa là di sản chung của nhân loại đã được khẳng định trong lời nói đầu của dự thảo, nhằm đánh thức sự quan tâm của các quốc gia thành viên vai trò, giá trị của sự đa dạng văn hóa đối với sự tồn tại, hưng, vong của nhân loại.
Theo đó, để thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực các quốc gia phải thừa nhận và hỗ trợ đa dạng văn hóa, nâng cao năng lực của các quốc gia trong việc hoạch định các chính sách văn hóa để bảo vệ và thúc đẩy nội dung văn hóa và biểu đạt nghệ thuật, đảm bảo phát triển kinh tế và văn hóa luôn song hành. Và, Công ước như là một công cụ chuẩn ràng buộc các quốc gia thực hiện cam kết có tổ chức.
Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa Việt Nam:
Bảo vệ sự đa dạng văn hóa là tạo nội lực để giao lưu với các nền văn hóa khác, tiếp nhận một cách khoan dung các giá trị văn hóa, sáng tạo nên các giá trị văn hóa mới làm phong phú vốn văn hóa của mỗi quốc gia.
Muốn thực hiện tốt điều này, từng quốc gia phải có chính sách phù hợp để thúc đẩy việc bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc và giao lưu quốc tế. Vì thế, Công ước này sẽ dễ được người VN chấp nhận vì phù hợp với chiến lược phát triển văn hóa của VN.
Giáo sư Vũ Khiêu:
Tính đa dạng văn hóa đã từ lâu trở thành điều kiện tồn tại và phát triển không chỉ của văn hóa mà còn của bản thân dân tộc. VN có 54 dân tộc anh em cùng chung sống có những nét riêng biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán, sinh hoạt vật chất...
Trải qua hàng ngàn năm chung sống với nhau, những dân tộc và tộc người anh em ấy đã không đánh mất bản sắc văn hóa mà còn phát huy tính đa dạng của mình. Bản sắc và tính đa dạng ấy không tạo nên ở họ một hàng rào khép kín, ngược lại họ luôn luôn tự coi mình như những thành viên trong máu thịt của cộng đồng VN.
Điều khiến họ gắn kết với nhau chính là giá trị phổ biến mang tính nhân loại, những giá trị đã trở thành cốt lõi của văn hóa VN, những mục tiêu phấn đấu chi phối lý tưởng sống và hành vi ứng xử của con người VN.
Riêng về mặt giao lưu văn hóa, dân tộc VN đã gặp gỡ, trao đổi với rất nhiều nền văn minh trong khu vực và trên thế giới, đã tiếp thu được rất nhiều nhân tố tích cực từ nước ngoài và không hề bị đồng hóa. Ngược lại, sự giao lưu ấy đã góp phần làm cho tính đa dạng của văn hóa Việt Nam ngày càng phong phú và bền vững.
Giáo sư Tô Ngọc Thanh: Cần phải đưa vào công ước một điều lệ tính thống nhất trong mối quan hệ với đa dạng văn hóa: Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia... là những quốc gia có nền văn hóa đa dạng, trong quá trình phát triển xã hội, sự đa dạng ấy không mất đi mà ngày càng được tôn vinh là nhờ tính thống nhất trong chiến lược quản lý và phát triển văn hóa nói chung.
Riêng đối với Việt Nam, ngoài những chính sách ưu đãi phát triển văn hóa mang tính khu vực, việc tổ chức những ngày văn hóa Chăm, Khmer, Tây Bắc, Đông Bắc... ở Hà Nội và một số tỉnh, thành thời gian qua chính là một cách khơi dậy bản sắc văn hóa riêng đặc sắc của các dân tộc, tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Bảo vệ đa dạng văn hóa, Công ước cần có cánh cửa mở cho các quốc gia thành viên, tôn trọng cách xử lý của mỗi quốc gia dựa trên cơ sở thực tế, hoàn cảnh lịch sử của từng nước.
Giáo sư Trần Quốc Vượng: Chấp nhận đa dạng văn hóa phải trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các nền văn hóa khác trong quá trình giao lưu hội nhập. Mỗi quốc gia có đặc điểm tự nhiên, xã hội, trình độ phát triển khác nhau nên đương nhiên bên cạnh những chính sách chung, yêu cầu chung mang tính nhân loại rất cần có những chính sách bảo vệ và phát triển đa dạng văn hóa của riêng mình.
Vì thế, "Cánh cửa mở" trong Công ước là một cách tôn trọng nền văn hóa cũng như chính sách phát triển, bảo vệ đa dạng văn hóa sau khi Công ước có hiệu lực trên phạm vi toàn cầu.
Nhìn vào thực tế, không phải chỉ VN có Nhã nhạc cung đình, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đều có, nhưng trong nhiều thế kỷ giao lưu, tiếp nhận và biến chuyển để tạo nên tính đặc thù riêng, những giá trị nội hàm và ngoại hàm của Nhã nhạc cung đình Huế đã trở thành tài sản quý riêng có ở VN. Và, chính giá trị đặc biệt riêng ấy đã đưa Nhã nhạc VN vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Đối thoại giữa các nền văn minh đang là yêu cầu quan trọng bậc nhất của sự phát triển tính đa dạng văn hóa nhưng nó lại diễn ra giữa một bên có ưu thế tuyệt đối về kinh tế và văn hóa với bên kia là những người còn thiếu thốn về mọi mặt trên lĩnh vực văn hóa, họ không có điều kiện và phương tiện cần thiết để tiếp cận những phát minh ngày càng kỳ diệu của nhân loại.
Điều 16 và 17 của dự thảo Công ước đã nêu lên tình hình, sự hạn chế của các nước đang phát triển và đòi hỏi sự quan tâm của các nước phát triển. Theo đó, quyền ưu đãi dành cho các nước đang phát triển (Điều 17) được ghi rõ: "Các nước phát triển cần tạo thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa với các nước đang và kém phát triển bằng cách dành sự đối xử ưu đãi thích hợp đối với các chuyên gia, các nhà nghệ thuật các nhà sáng tạo của các nước đang phát triển và chậm phát triển, cũng như đối với các sản phẩm và dịch vụ văn hóa của nước nhà".
Riêng vấn đề tự do trong biểu đạt văn hóa và nghệ thuật được nhấn mạnh trong, dự thảo, các học giả VN đều thống nhất quan điểm: Tự do của cá nhân không được xâm phạm đến lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc và của nhân loại. Tự do của một cá nhân gắn liền với trách nhiệm của cá nhân đó với xã hội với cộng đồng.